Viện phương đông

2 năm trước

Tiếng Việt từ TK 17: cách dùng đã, đã đã, nên tật, đã tật phần 34) Kỳ 2 Nguyễn Cung Thông

Tóm tắt các cách dùng đã đã mà người viết (NCT) có dịp đọc qua là (a) 7/12 ~ 60% giống như VBL (dùng hai chữ Nôm giống nhau) và khoảng 40% dùng hai chữ Nôm khác nhau. Cách dùng đã đã từng hiện diện trong Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng (đã đọc là đà)

Powered by Froala Editor

Tiếng Việt từ TK 17: cách dùng đã, đã đã, nên tật, đã tật  phần 34)  Kỳ 2

                                                                                                   Nguyễn Cung Thông


1.2 Đã đã 

Đã đã là đã khỏi (hết) bệnh (VBL trang 191) và có hai cách viết chữ Nôm: đã đã (a) 㐌㐌 hay đà đã (b) 它㐌. Xem cách dùng trong các câu điển hình như sau

CTTr tháng hai "Khỏi bốn ngày thì qua đòi người ra mà thấy đã đã (b) cùng thấy khen phép ĐCGS... Quan thấy người đã đã (b) thì hãi nhưng chẳng tin sự ấy bởi phép ĐCT" trang 46, 109.

CTTr tháng bảy "Người nghe tiếng ấy liền mừng lắm, mà đã mọi dấu tích như kẻ chẳng có sự gì sốt. Cách một ngày, quan lại đòi mà thấy đã đã (b) thì khen bụt" trang 90.

CTTr tháng ba "Đến khi đã đã (a) toan về nhà quê ... mà người ấy phải một tật nặng ở cổ, chẳng có thuốc nào chữa được ...Khi ấy con ấy đã đã (a)" trang 35, 147.

CTTr tháng giêng "Bấy giờ thiên hạ tâu vua rằng thôi, đã đã (a), chớ vác nữa" trang 104.

KNLMPS quyển thứ ba "Mười người đã đã (a) hết, nào chín người ở đâu ... Hãy về, con ông đã đã (a)" trang 95,107.…v.v…

Tóm tắt các cách dùng đã đã mà người viết (NCT) có dịp đọc qua là (a) 7/12 ~ 60% giống như VBL (dùng hai chữ Nôm giống nhau) và khoảng 40% dùng hai chữ Nôm khác nhau. Cách dùng đã đã từng hiện diện trong Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng (đã đọc là đà)

懺悔它陀󱲥𡗅命礼三

Sám hối đà đã, để lòng về mệnh lạy Tam Bảo    (44b)

...

 伤吏

Mừng đã, thương lại đến   (13a)

Biến âm của đã (đà) xuất hiện trong Cư Trần Lạc Đạo Phú hay Ức Trai Thi Tập

它突吝場經𬮌

Đà đụt lẩn trường kinh cửa tổ     (25a)

...

身它歇累身𢧚

Thân đà hết lụy thân nên nhẹ      (13a)    ...v.v...

2 Tật

Tật có các nghĩa như thói quen (thường là xấu, khó sửa), trạng thái không bình thường[1] (td. tàn tật, tật nguyền) từ bẩm sinh, từ tai nạn hay bệnh nan y. Tuy nhiên, một nghĩa cổ của tật là bệnh (theo TVGT) như các trường hợp liệt kê ở trang sau. Xem lại chữ tật HV 疾 (thanh mẫu tùng 從 vận mẫu chất 質 nhập thanh, khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết

秦悉切 tần tất thiết (TVGT, ĐV) TVGT ghi (疾)病也 (tật) bệnh dã - QV/TV/LT/TVi đều chép lại nghĩa này, giải thích phần nào cách dùng từ kép tật bệnh (VBL đã ghi theo thứ tự HV) so với bệnh tật trong tiếng Việt hiện đại.

才栗切 tài lật thiết (NT, TTTH)

昨悉切,音嫉 tạc tất thiết, âm tật (TV, VH, LT, CV, TVi)

才詣切,音劑 tài nghệ thiết, âm tề (VB)

TNAV ghi vận bộ 齊微 tề vi (入聲作平聲 nhập thanh tác bình thanh)

CV ghi cùng vần/nhập thanh 疾 嫉 蒺 (tật) ...v.v...

Giọng BK bây giờ là jí so với giọng Quảng Đông zat6 và các giọng Mân Nam 客家话:[沙头角腔] cit8 [客英字典] cit8 [海陆丰腔] cit8 [宝安腔] cit8 [陆丰腔] cit7 [梅县腔] cit8 [台湾四县腔] cit8 [客语拼音字汇] qid6 [东莞腔] cit8, tiếng Nhật shitsu và tiếng Hàn cil. Tật là một dạng âm trung cổ còn bảo lưu trong tiếng Việt rất khác với tiếng Trung (Quốc) hiện nay đọc như *chỉ (giọng BK bây giờ là jí) đã mất phụ âm cuối -t ... Một điểm đáng chú ý là Hán ngữ không có nét nghĩa thói xấu cũng như tiếng Việt lại không dùng nét nghĩa cấp bách của tật ((td. hiệu lệnh thi hành rất tật tốc/VNTĐ).

2.1 Tật phung 

Một chứng bệnh độc hại từng gây nhiều hậu quả kinh khủng trong lịch sử là bệnh cùi (hủi, ma phong 麻風, phong cùi) trước khi có thuốc chữa[2] thật công hiệu vào thập niên 1940. Thời VBL gọi tật phung, nên phung là bị/mắc bệnh cùi, khác với nên phong[3] là bị thượng mã phong ("chết trên bụng vợ", VBL còn ghi thêm cách dùng "phạm phong" - xem hình chụp bên dưới). "Tật phung" là bệnh cùi (morbus elephantiacus/L, tiếng Bồ là doença de lazaro). Tiếng La Tinh vào thời LM de Rhodes vẫn dùng tiếng Hi Lạp cổ gọi bệnh cùi là elephantiasis, chỉ một loại bệnh cùi rất độc hại. Sau đó, tiếng La Tinh vào thời các LM Béhaine và Taberd thì lại dùng một tiếng Hi Lạp cổ khác là lepra. Tật phung - nên 

[1] Việt Nam Tự Điển (sđd) giải thích bệnh mà chữa không được thì gọi là tật, trong khi Tự Điển HV của học giả Thiều Chửu ghi "mình mẩy không được dễ chịu gọi là tật 疾, nặng hơn nữa gọi là bệnh 病". Cách hiểu sau cũng thường gặp trong tiếng Trung (Quốc) hiện đại: tật chỉ triệu chứng ban đầu (không bình thường) của cơ thể và nếu không chữa thì càng nặng hơn và trở thành bệnh ...v.v...

[2] Năm 1873, bác sĩ Hansen (người Na Uy) tìm ra được nguyên nhân gây bệnh cùi là vi khuẩn Mycobacterium leprae thành ra bệnh cùi từ đó còn gọi là Hansen's disease, tiếng Trung là 漢生病 (Hán Sanh bệnh) so với các cách dùng thời trước là lại phong, lệ phong 癩病、癘風 (td. trên các thẻ tre tìm thấy ở tỉnh Hồ Bắc năm 1975).

[3] Cho đến thời Béhaine/Taberd (1772/1773-1838), Trương Vĩnh Ký (1884) Đàng Trong vẫn dùng tật phung (bệnh cùi) so với bệnh phong (kinh phong), Theurel (1877, Đàng Ngoài) dùng bệnh phong, tật phong (bệnh cùi). Tới cuối TK 19 thì dạng phong trở thành phổ thông hơn.

----------------------------------  

[1] Việt Nam Tự Điển (sđd) giải thích bệnh mà chữa không được thì gọi là tật, trong khi Tự Điển HV của học giả Thiều Chửu ghi "mình mẩy không được dễ chịu gọi là tật 疾, nặng hơn nữa gọi là bệnh 病". Cách hiểu sau cũng thường gặp trong tiếng Trung (Quốc) hiện đại: tật chỉ triệu chứng ban đầu (không bình thường) của cơ thể và nếu không chữa thì càng nặng hơn và trở thành bệnh ...v.v...

[1] Năm 1873, bác sĩ Hansen (người Na Uy) tìm ra được nguyên nhân gây bệnh cùi là vi khuẩn Mycobacterium leprae thành ra bệnh cùi từ đó còn gọi là Hansen's disease, tiếng Trung là 漢生病 (Hán Sanh bệnh) so với các cách dùng thời trước là lại phong, lệ phong 癩病、癘風 (td. trên các thẻ tre tìm thấy ở tỉnh Hồ Bắc năm 1975).

[1] Cho đến thời Béhaine/Taberd (1772/1773-1838), Trương Vĩnh Ký (1884) Đàng Trong vẫn dùng tật phung (bệnh cùi) so với bệnh phong (kinh phong), Theurel (1877, Đàng Ngoài) dùng bệnh phong, tật phong (bệnh cùi). Tới cuối TK 19 thì dạng phong trở thành phổ thông hơn.

phung (VBL ghi lại 4 lần trong các mục nên, tật, phung và phũ): "xem sóc kẻ liệt, cùng hôn dấu kẻ phải tật phong" CTTr tháng mười một trang 30; "Có một lần, những kẻ có tật phong ăn nhà mình đến nhiều, và có lần người cao lớn và nặng tật hơn kẻ khác … khuyên người và khiến chữa tật phong cho ...Chẳng khỏi bao lâu vua phải tật phong, cho nên một ngày một yếu, đứng chẳng được " CTTr tháng tám trang 97, 117, 128; "ĐCGS dạy kẻ tật phong đi tìm thầy ... Song le nó còn đi thì đã" Kinh Những Lễ Mùa Phục Sinh trang 96; "Có người tối mặt, cùng người có tật phong đến cùng người, thì làm dấu cho kẻ tối liền sáng, kẻ có tật liền đã. Bởi ông Thánh Phan Chi Cô rửa tật cùng uống nước ấy thì cũng đã … thì cho vua tên là Công Tan Ti Nô phải một tật phong, chữa chung chẳng được. Bấy giờ, các sãi tâu vua lấy máu trẻ mà tắm cho vua khỏi tật" CTTr tháng mười hai trang 14, 156-157; "(kẻ rối) chẳng khỏi bao lâu phải tật động kinh cùng nên phong mà chết" CTTr tháng bảy trang 57 …v.v…

VBL trang 609

 VBL trang 596

2.2 Tật động kinh

Các tài liệu thời VBL thường dùng tật động kinh: "Bấy giờ người run sợ ngã xuống đất, xanh xao, sùi bọt miệng như kẻ có tật động kinh" CTTr tháng hai trang 72.

"(kẻ rối) chẳng khỏi bao lâu phải tật động kinh cùng nên phong mà chết" CTTr tháng bảy trang 57...v.v... Vào TK 19 thì cụm danh từ “bịnh động kinh (đụng kinh)” bắt đầu phổ thông cũng như sau đó là bệnh kinh phong.

VBL trang 237

2.3 Tật thủy thủng

Bệnh phù/phù thủng vào thời VBL gọi là tật thủy thủng: "Kẻ có tật thủy thủng có hai sự khó: một là sưng mình, hai là khát nước ... Ai muốn cho đã tật ấy, thì phải uống thuốc khiêm nhường" Kinh Những Lễ Mùa Phục Sinh, quyển thứ ba trang 101; "Xưa có một người nữ sang trong góa chồng, phải tật thủy thũng mà nhọc lắm" TCTGKM trang 16; "mà thấy một người trong nhà ấy có tật thủy thũng ... ĐCGS cầm tay, liền cho đã tức thì" trang 100 Kinh Những Lễ Mùa Phục Sinh.

VBL trang 788

2.4 Tật lây 

Bệnh hay lây (truyền nhiễm) vào thời VBL gọi là tật lây: 

"Có một lần trong thành Si Na có tật lây nhau mà chết nhiều người lắm, thì kẻ giữ nhà thương chết hết chẳng còn ai xem sóc ...Vậy người làm mọi việc hèn trong nhà thương mà Đức Chúa Blời chẳng cho ai lây, lại cho kẻ liệt đã chóng nữa" CTTr tháng năm trang 105. Đây là câu chuyện kể về công nghiệp của Thánh Bernardo of Siena (1380-1444) khi dịch bệnh lan tràn nước Ý vào năm 1440.

"thì ông thánh Pha Pha đã sinh thì vì phải tật lây, bởi nước trong sông chảy giữa thành tràn ra lắm, làm cho hư cả và đất" CTTr tháng ba trang 65 - truyện kể vào thời ông thánh Gregory I có bệnh dịch hạch lan tràn vào năm 590, Giáo hoàng Pelagiô II cũng qua đời vì dịch này. Một phần ba dân số nước Ý đã chết vì bệnh dịch ... Tại Roma còn kỷ niệm việc ông chấm dứt dịch hạch bằng bảy cuộc kiệu, xuất phát từ bảy khu vực tập trung tại nhà thờ Đức Bà Cả (Basilica Papale di Santa Maria Maggiore).

"Đức Chúa Trời mới cho khỏi tật lây khi trước" CTTr tháng tư trang 149 ...v.v... Tật lây chữ Nôm là 疾淶 (Maiorica) hay còn có dạng 疾唻 (Béhaine-Taberd). VBL có ghi dạng dịch, nhưng là dịch ra (dịch bộ ngôn 譯) chứ không thấy ghi dạng dịch bộ nạch 疫, tuy nhiên vào cuối TK 18, đầu TK 19 thì cách dùng bệnh dịch đã xuất hiện (tự điển chép tay Bồ Việt)

 Tự điển chép tay Bồ Việt

Tóm lại cách dùng tật rất thường gặp vào thời VBL để chỉ bệnh (bịnh). Mắc/bị bệnh thì thời VBL dùng nên tật, phải tật: "vì đã phải tật ra máu mình, mười hai năm, mà của mình cho những thầy thuốc chữa chùng hết, song chẳng đã cho" PGTN trang 185, chẵng đã là không khỏi, không chữa được (xem phần trên về các nét nghĩa của đã). Để ý các cách dùng đã, thuốc (chữa) và tật trong câu trên. TCTGKM trang 132 "vì chưng sự thề chẳng khác gì uống thuốc khi phải tật gì mới uống. Chẳng có năng uống thuốc chơi vậy". Rõ ràng là các tài liệu vào thời VBL hay ngay sau đó cho thấy cách dùng phải tật là bị bệnh, nên phải uống thuốc để chữa bệnh cho lành (cho khỏi, cho đã). Phần sau sẽ cho thấy các kết quả trực tiếp của cách dùng tật trong thành ngữ và tục ngữ còn truyền tụng cho đến ngày hôm nay.


Powered by Froala Editor